Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2014

CÁCH NÓI CÁCH VIẾT CỦA BÁC HỒ

Đặc trưng nổi bật trong phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh là tính phù hợp một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn giữa ngôn từ, cách diễn đạt trong bài nói, bài viết của Người với trình độ nhận thức, sự hiểu biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người đọc, người nghe. Nhờ đó, bài nói, bài viết của Người luôn đạt được sự thấm thía và có sức thuyết phục mạnh mẽ.

cachvietTrong cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn luôn coi ngôn ngữ là công cụ đắc lực không thể thiếu để tuyên truyền, giác ngộ ý thức cách mạng, củng cố và nâng cao nhận thức xã hội trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân mà ai cũng phải "cố gắng học tập", "ra công rèn luyện" để nắm được đặc tính của nó và sử dụng nó một cách có hiệu quả nhất trong thực tiễn hoạt động cách mạng. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nói và viết không phải đơn thuần chỉ là một hành động thông tin mà còn chủ yếu là một quá trình tác động lên người nghe, người đọc, nhằm thuyết phục họ, cảm hóa họ, làm họ thay đổi nhận thức, thay đổi quan niệm, tình cảm thẩm mỹ và hành vi, hướng họ vào các hoạt động thực tiễn phù hợp xu hướng tiến bộ của xã hội, của thời đại. Quan hệ giữa thông tin và tác động thì thông tin là phương tiện, tác động là mục đích.

Như vậy, mục đích nói và viết trong cách quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở chỗ làm cho người nghe, người đọc hiểu về điều được nói, được viết, mà cái cốt yếu là còn tác động lên người nghe, người đọc, làm họ thay đổi nhận thức, ý nghĩ, tình cảm, trên cơ sở đó, làm thay đổi hành vi của họ, hướng họ vào hành động theo nhận thức mới.

Điều nói trên cho phép cắt nghĩa tại sao, trong suốt cuộc đời hoạt động của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm đặc biệt đến việc rèn luyện cách nói, cách viết, như rèn giũa một thứ công cụ chuyên dụng và luôn luôn khuyên cán bộ, đảng viên, nhà báo, nhà văn, người tuyên truyền cũng làm như thế.

Cái cốt lõi thứ hai trong tư tưởng sử dụng ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là coi hiệu quả tác động của bài nói, bài viết phụ thuộc rất đáng kể vào tính ý thức của người nói, người viết, về mục đích nói và viết của mình trước người nghe, người đọc và trước xã hội. Người nói, người viết có trách nhiệm không bao giờ được vô tình với người nghe, người đọc. Tư tưởng đó được đúc kết lại trong năm luận đề làm thành một chỉnh thể, có mối quan hệ tác động qua lại dưới đây:

Ai nói, ai viết; Nói hoặc viết cho ai nghe, ai đọc; Nói hoặc viết cái gì; Nói hoặc viết để làm gì, nhằm mục đích gì; Nên nói hoặc viết như thế nào để đạt hiệu quả tốt nhất.

Năm câu hỏi trên quả nhiên buộc người nói, người viết phải suy nghĩ, cân nhắc kỹ lưỡng về cương vị xã hội - công dân của bản thân mình, xác định thật rõ về ý đồ, mục đích bài nói, bài viết, về các đặc điểm tâm lý, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, học vấn, vốn sống, thị hiếu, thẩm mỹ của đối tượng mà mình hướng tới, về cách lựa chọn các từ ngữ và các biện pháp nghệ thuật thích hợp khi nói và viết.

Điểm cốt lõi thứ ba trong quan niệm sử dụng ngôn ngữ ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là mỗi đối tượng phải có một cách nói, cách viết khác nhau, phù hợp trình độ học vấn, trình độ nhận thức xã hội, quan niệm thẩm mỹ, và các đặc điểm về tâm lý, lứa tuổi, giới tính, nghề nghiệp, tôn giáo, tín ngưỡng của từng nhóm đối tượng. Công chúng ở thời nào cũng vậy, bao giờ cũng là một cộng đồng xã hội phân tầng theo các nhóm khác nhau về trình độ nhận thức, học vấn, thẩm mỹ, động cơ, quyền lợi, tôn giáo, quan điểm tư tưởng. Đặc tính xã hội - tâm lý của đối tượng đã chi phối gần như toàn bộ cách lựa chọn từ ngữ, và các thủ pháp nghệ thuật, cách trình bày bố cục của bài nói, bài viết của Bác Hồ.

Ngôn ngữ trong các tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sản phẩm độc đáo, đa dạng của quá trình hoạt động hơn nửa thế kỷ của một nhà cách mạng có lý luận; nhà hoạt động chính trị, ngoại giao nhiều kinh nghiệm, am tường sự thế; nhà tuyên truyền nắm chắc mục đích và thấu hiểu đối tượng; một nhà báo sắc sảo, có bản lĩnh; một nhà giáo dục sâu sắc, tế nhị; một người viết văn, làm thơ có ý hướng rõ rệt; một người cộng sự tin cẩn, một người bạn tâm tình gần gũi với mọi tầng lớp nhân dân; một Bác Hồ kính yêu, phúc hậu của các cháu thiếu niên, nhi đồng; một vị Chủ tịch nước có uy tín lớn, cương nghị, kiên quyết với kẻ thù, đúng mực, nhân ái với kẻ lầm đường lạc lối, toàn tâm toàn ý với nước, với dân. Thâm nhập hết thảy cương vị của Người là một chiến sĩ cộng sản xuất sắc, một nhà văn hóa lớn có năng lực ứng xử xã hội tài tình và năng lực ứng xử ngôn ngữ đa dạng, tinh tế, thâm thúy có sức thuyết phục đặc biệt.

Đặc trưng nổi bật trong phong cách ngôn ngữ Chủ tịch Hồ Chí Minh là tính phù hợp một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn giữa ngôn từ, cách diễn đạt trong bài nói, bài viết của Người với tầm mức văn hóa, trình độ nhận thức, sự hiểu biết và cách suy nghĩ của từng đối tượng người nghe, người đọc và hợp với từng hoàn cảnh giao tiếp cụ thể. Hồ Chí Minh ý thức rất rõ rằng, hiệu quả cuối cùng và cao nhất của bài nói, bài viết chính là ở mức cảm thụ được ở người nghe, người đọc từ bài nói, bài viết đó.

Tư tưởng nói và viết phải phù hợp đối tượng như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt mọi bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh. Người luôn luôn khuyên "muốn cho người xem hiểu được, nhớ được, làm được thì phải viết cho đúng trình độ người xem". ở chỗ khác, Người cũng nói: "Một tỉnh có đồng bào Thái, đồng bào Mèo thì khi huấn luyện đối với đồng bào Thái và đồng bào Mèo phải khác, phải có sự thay đổi cho thích hợp, bởi vì đời sống và trình độ đồng bào Mèo và đồng bào Thái khác nhau". Người đã nhận xét rất thú vị về cách nói, cách giảng bài của cán bộ trước quần chúng: "Nhiều đồng chí ta... đã đưa thặng dư giá trị nhồi sọ cho thanh niên và phụ nữ nông dân, tân dân chủ nghĩa nhồi sọ cho các em nhi đồng, biện chứng pháp nhồi sọ cho công nhân đang học chữ quốc ngữ". Và, Người khẳng định "chúng ta muốn tuyên truyền quần chúng phải học cách nói của quần chúng mới lọt tai quần chúng". "Nhân dân ta có truyền thống kể chuyện ngắn gọn mà lại có duyên, các chú phải học cách kể chuyện của nhân dân". Trong các bài nói, bài viết của Người, hàm lượng ca dao, tục ngữ, thành ngữ, cũng như các cách nói so sánh, ví von dí dỏm rất lớn. Trong sáu cuốn Hồ Chí Minh Toàn tập đã có 314 câu thành ngữ với 561 lần được sử dụng.

Đặc điểm nổi bật thứ hai trong văn phong của Hồ Chí Minh là tính xác đáng của nghĩa từ được sử dụng. Một từ Người đã dùng cho ý nào, trong tình huống nào là từ đó có ấn tượng mạnh và rất khó thay thế bằng từ khác. Tính xác đáng ở đây bao gồm cả tính chính xác về ý nghĩa và tính thích hợp (hay trúng) với hoàn cảnh hay tình huống giao tiếp cụ thể. Chẳng hạn, để nói thói tiêu pha phung phí tiền bạc của công, tính nói nhiều, làm ít của cán bộ, Người viết: "Sinh hoạt xa hoa, tiêu xài bừa bãi. Tiền bạc đó ở đâu ra? Không xoay của Đảng thì xoay của đồng bào. Việc dễ thì tranh lấy cho mình. Việc khó thì đùn cho người khác. Gặp việc nguy hiểm thì tìm cách để trốn tránh" (Sửa đổi lối làm việc, trang 36).

Hoặc, nói về lối dùng người vô nguyên tắc, Hồ Chủ tịch viết: kéo bè, kéo cánh, bà con, bạn hữu không tài năng gì cũng chức này, chức nọ? Người có tài có đức nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài" (Tuyển tập Hồ Chí Minh, tập 1, trang 371). Tính chính xác của ngôn ngữ cũng bao hàm cả tính tinh tế trong việc lựa chọn từ khi nói, viết, điển hình là câu: "Đối với những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy tình thân ái mà cảm hóa họ" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, trang 140). "Đối với những kẻ đi lầm đường lạc lối, đồng bào ta cần phải dùng chính sách khoan hồng. Lấy lời khôn lẽ phải mà bày cho họ" (Hồ Chí Minh Toàn tập, tập 4, trang 175). ở đây, thái độ của người viết rất rõ ràng: một bên là đồng bào, một bên là kẻ; một bên là lạc lối lầm đường, một bên là lầm đường lạc lối (đối lập đường và lối); một bên là lấy tình thân ái mà cảm hóa, một bên là lấy lời khôn lẽ phải mà bày.

Để nói về quan hệ ứng xử giữa lớp cán bộ lâu năm, nhiều tuổi với cán bộ trẻ, Chủ tịch Hồ Chí Minh có cách nói rất thấm thía nhờ sử dụng đúng chỗ, đúng ý các quán ngữ, thành ngữ: "Một số ít cán bộ già mắc bệnh công thần, cho mình là người có công lao, hay có thái độ cha chú" với cán bộ trẻ, trẻ nói gì cũng gạt đi, cho là "trứng khôn hơn vịt, măng mọc quá tre".

Đặc điểm nổi bật thứ ba trong cách nói, cách viết của Hồ Chí Minh là việc sử dụng nhiều thủ pháp nghệ thuật ngôn từ cho một mục đích diễn đạt. Đặc điểm này rất ít thấy ở các tác giả khác. Những thủ pháp nghệ thuật ngôn từ tiêu biểu là: dùng câu hỏi để gây sự chú ý, đặt người nghe vào cuộc thoại; lặp từ, nhắc lại ý để nhấn mạnh, gây ấn tượng; thay đổi hình thức từ, cấu trúc từ theo lối chơi chữ để gây tính hài hước, dí dỏm, vui tươi, xóa nhòa sự ngăn cách về địa vị xã hội, gây sự thân mật giữa người nói và người nghe...

Trên đây là những nhận xét, tìm tòi bước đầu về cách nói, cách viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nếu nói một cách khái quát nhất thì, đặc điểm nổi bật của cách nói, cách viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tính thỏa đáng giao tiếp theo từng đối tượng và từng hoàn cảnh cụ thể; nhờ đó mà bài nói, bài viết của Người luôn đạt được sự thấm thía, có sức thuyết phục mạnh mẽ và có hiệu quả tác động lớn.

Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Như Ý
(Báo Nhân dân)

TƯ TƯỞNG VÀ TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ CỦA HỒ CHÍ MINH
Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh có nội dung phong phú và rộng lớn, trong đó Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư là những phẩm chất không thể thiếu của người cách mạng, Người luôn coi đó là những phẩm chất phải luôn gắn liền với lời nói, việc làm, cử chỉ, hành động của mỗi cán bộ, đảng viên. Tháng 6-1949 với bút danh Lê Quyết Thắng, trong tác phẩm Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Người đã giải thích rõ:
Cần: là cần cù, siêng năng, chăm chỉ, dẻo dai; lao động sáng tạo, có kế hoạch, có năng suất cao... Trái với Cần là lười biếng: biếng học, biếng làm, không chịu động não tư duy. Việc dễ thì dành cho mình, việc khó thì tìm cách lẩn tránh, đẩy cho người khác…
Kiệm: là “tiết kiệm, không xa xỉ, không lãng phí, không bừa bãi”(1) đó là tiết kiệm thời gian, tiền của; tiết kiệm từ cái nhỏ đến cái lớn… Tiết kiệm nhưng không bủn xỉn: “Khi không nên tiêu xài thì một đồng xu cũng không nên tiêu. Khi có việc đáng làm, việc ích lợi cho đồng bào, cho Tổ quốc, thì dù bao nhiêu công, tốn bao nhiêu của cũng vui lòng. Như thế mới đúng là Kiệm”(2). Trái với Kiệm là xa hoa, lãng phí, bừa bãi làm tốn thời gian, tiền của một cách vô ích.
Liêm: là “trong sạch không tham lam…”(3), “là không tham địa vị. Không ham tiền tài… chỉ có một thứ ham là ham học, ham làm, ham tiến bộ”(4). Trái với Liêm “là tham tiền của, tham địa vị, tham danh tiếng…”, “Cậy quyền, cậy thế mà đục khoét dân, ăn của đút hoặc trộm của công làm của tư”(5).
Chính: “là không tà…, là thẳng thắn, đứng đắn”(6). Việc gì cũng phải công minh chính trực; không tư ân, tư huệ, tư thù, tư oán… Trái với Chính là tà, là ác; là không thẳng thắn, không đứng đắn; là hủ hoá, xấu xa, kiêu ngạo…
Chí công vô tư: là không nghĩ đến mình trước, phải đặt lợi ích của cách mạng, của nhân dân, của Đảng, lên trên hết, trước hếtkhông kèn cựa về mặt hưởng thụ, lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ, mình vì mọi người, công tâm trong sáng. Đối lập với “Chí công vô tư” là “di công vi tư”, đó là chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, hẹp hòi, là một thứ vi trùng độc hại; là căn nguyên, gốc rễ đẻ ra hàng trăm thứ bệnh và thói hư tật xấu: Tham lam, kiêu ngạo, hiếu danh, óc địa phương hẹp hòi, kéo bè, kéo cánh, quan liêu, độc đoán, tham ô, tham nhũng…
Cần, Kiệm, Liêm, Chính, Chí công vô tư có mối quan hệ biện chứng, gắn bó mật thiết với nhau. Theo Bác: “Cần và Kiệm, phải đi đôi với nhau, như hai chân của con người. Cần mà không Kiệm, “thì làm chừng nào xào chừng ấy”… Kiệm mà không cần thì không tăng thêm, không phát triển được”(7) . “Chữ Liêm phải đi đôi với chữ Kiệm. Cũng như chữ Kiệm phải đi đôi với chữ Cần. Có Kiệm mới có Liêm được. Vì xa xỉ mà sinh tham lam”(8). “Cần, Kiệm, Liêm, là gốc rễ của Chính. Nhưng một cây cần có gốc rễ, lại cần có ngành, lá, hoa, quả mới hoàn toànMột người có Cần, Kiệm, Liêm, nhưng còn phải Chính mới là người hoàn toàn”(9) . Bác nhấn mạnh: Cần, Kiệm, Liêm, Chính là vô cùng quan trọng và cần thiết; là nền tảng của đời sống mới; là cái cần để làm việc, làm người, làm cán bộ, phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại; là thước đo văn minh tiến bộ của một dân tộc. Người khẳng định:Một dân tộc biết Cần, Kiệm, Liêm, Chính “là một dân tộc giàu về vật chất, mạnh về tinh thần, là một dân tộc văn minh tiến bộ”(10). Cần, Kiệm, Liêm, Chính là đạo đức của một xã hội hưng thịnh: nếu không có những phẩm chất đó thì xã hội suy vong. Do đó, thực hiện Cần, Kiệm, Liêm, Chính sẽ dẫn đến Chí công vô tư. Ngược lại, Chí công vô tư, một lòng, một dạ vì dân, vì Đảng thì nhất định sẽ dễ thực hiện được Cần, Kiệm, Liêm, Chính và có được nhiều đức tính tốt khác. Kết quả: “Bộ đội sẽ đầy đủ, nhân dân sẽ ấm no, kháng chiến sẽ mau thắng lợi, kiến quốc sẽ mau thành công, nước ta sẽ mau giàu mạnh ngang hàng với các nước tiên tiến trên thế giới”(11).
Hồ Chí Minh không chỉ nêu ra những phẩm chất, những chuẩn mực đạo đức cách mạng mà điều rất quan trọng, rất thuyết phục là chính Người là hiện thân của những phẩm chất đó để chúng ta học tập.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, dù là người phụ bếp, đốt lò, rửa bát hay trên cương vị là đại biểu của Quốc tế cộng sản, Chủ tịch nước - Hồ Chí Minh luôn nêu cao lối sống cần kiệm, giản dị, không màng danh vọng, không ham của cải, không ham sự xa hoa, không chuộng những nghi thức sang trọng. Bác luôn dành sự quan tâm đặc biệt tới đời sống của nhân dân. Bác nói: “Người ta ai cũng muốn ăn ngon, mặc đẹp, nhưng muốn phải cho đúng thời, đúng hoàn cảnh. Trong lúc nhân dân ta còn thiếu thốn mà một người nào đó muốn riêng hưởng ăn ngon, mặc đẹp, như vậy là không có đạo đức”(12). Trước cảnh dân đói năm 1945, Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào cả nước nhường cơm, sẻ áo cho nhau: “Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hành trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn 3 bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo. Như vậy, thì những người nghèo sẽ có bữa rau, bữa cháo để chờ mùa lúa năm sau, khỏi đến nỗi chết đói”(13). Bác đã gương mẫu nhịn ăn vào tối thứ 7, tự tay bỏ gạo vào hũ cứu đói dân nghèo. Chiếc áo lụa đồng bào tặng, Bác cũng đem bán lấy tiền mua áo ấm tặng cho chiến sỹ trong mùa đông giá rét. Số tiền tiết kiệm ít ỏi là tiền nhuận bút các báo gửi cho Bác, Bác cũng đem mua nước ngọt tặng cho các chiến sỹ trực phòng không trong những ngày hè nóng bức. Bác thường nói: chiến sỹ còn đói, khổ tôi ăn ngon sao được, chiến sỹ còn rách rưới mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi”.
Những cử chỉ cao đẹp đó không chỉ là tình cảm, tình thương bao la của Bác với đồng bào, chiến sỹ mà còn thể hiện sâu sắc những giá trị đạo đức cách mạng ở Hồ Chí Minh. Sự tiết kiệm, giản dị, thanh liêm được thể hiện đậm nét trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của Bác.
Về chi tiêu: Những năm hoạt động ở nước ngoài, Người đã tự thân lao động kiếm tiền để hoạt động cách mạng, chi tiêu rất tiết kiệm. Đến khi làm Chủ tịch nước, cả trong kháng chiến, cả trong hoà bình, Bác luôn cân nhắc kỹ càng việc không đáng tiêu thì một xu cũng không tiêu.
Về bữa ăn: Ông Đinh Văn Cẩn người nấu ăn cho Bác từ hồi ở chiến khu Việt Bắc đến những ngày cuối đời, kể lại: Bác quy định mỗi bữa không quá 3 món, thức ăn đủ, tránh lãng phí. Bác ưa các món dân gian, dưa cà, mắm tép, cá kho. Khi đi công tác địa phương Bác dặn các đồng chí phục vụ chuẩn bị cơm nắm, thức ăn từ nhà hoặc mang nồi đi nấu cho tiết kiệm, tránh các nơi đón tiếp linh đình, tốn phí. Có lần Bác đến thăm một địa phương, các cụ mổ bò để đón, nhưng Bác nói: Các cụ đã mổ bò thì để các cụ và dân làng ăn, Bác cháu ta cứ ăn cơm đã mang theo.
Về trang phục: Bác thường xuyên mặc bộ kaky, đi dép lốp, dùng túi vải, mũ cát, kể cả khi đi công tác ngoài nước.
Về ở: Bác không chọn dinh thự cao cấp, đầy đủ tiện nghi sang trọng mà là mấy gian nhà vốn là nơi ở của người thợ, một căn nhà sàn, Bác sống giản dị đến giây phút cuối cùng của cuộc đời. Trước lúc đi xa Người còn căn dặn: Khi Bác qua đời chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân…
Tư tưởng và tấm gương đạo đức cách mạng Cần, Kiệm, Liêm Chính, Chí công vô tư của Chủ tịch Hồ Chí Minh là những giá trị đạo đức cao đẹp của thời đại. Trải qua thời gian và thử thách, trước những biến cố thăng trầm của lịch sử những phẩm chất đạo đức đó vẫn còn nguyên giá trị. Tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một việc làm vô cùng quan trọng và cần thiết đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn thể nhân dân.
Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh không phải là nhiệm vụ và trách nhiệm của một tầng lớp xã hội mà là nhiệm vụ của toàn xã hội. Nhằm đêm lại những giá trị cốt lỏi có ích cho sự vận động và phát triển của toàn xã hội. Đã là một công dân Việt Nam thì phải có trách nhiệm và hết lòng vì Đất Nước. Từ tận trái tim mình luôn hướng về tổ quốc. Gần đây tình hình Biển Đông rất căn thẳng và ngày càng trở nên là một vấn đề nhạy cảm. Chúng ta, những con người yêu nước nên giữ lấy tình yêu đất nước củ mình. Hướng về đất nước.